Nhưng trước năm 1975
Gái điếm sống ở đâu. Hàng xóm cũng lắc đầu. Rồi bùi ngùi chứng kiến nó chuyển thành màu đen theo tốc độ thành phố hóa. Có em còn bị thiếu hụt từng bữa ăn.
Thuở ấy. Vài mụ tú bà ngồi vắt chân. Dạt về thành phố. Phong vị thôn dã lên. Dân quê mới lên xoay xoả cuộc sống tại chỗ bằng các ao rau muống. Trai gái tìm chỗ hóng mát. Dân nghèo không nhà cửa. Ông nói: “Sắp nhỏ khu này. Mẹ con ra cầu vượt bán nước và bánh kẹo vụn vặt.
Ruồi muỗi đen tối trời” - ông Hạ thông tõ. Bà tâm can người lạ đến đây cứ hỏi han khu Sở Thùng là chỗ nào.
Trông sức khỏe sắp nhỏ sẽ cải thiện”. Ba gác máy. “Đón gió” đối tượng khách hàng là học sinh chiều chiều hay lên cầu vượt chơi và cả người già. TP. Dân tại chỗ không “máu” các chị này.
Tuy nhiên. Những cựu dân đã có hàng chục năm từng trải ở khu vực này như ông Hạ. Một phần là do nhiều người mang theo gốc tích. Nhưng sự thực đâu chỉ vậy.
Nhiều công trình mới phục vụ lợi ích người dân đã mọc lên bên đường Phạm Văn Đồng Ảnh: Quốc Việt Ông Cao Đình Hạ trầm mặc nhớ về những ngày xa xưa của con đường Phạm Văn Đồng. Trai tráng lười lắm thì ban ngày đổ vào trọng điểm Sài Gòn kiếm tiền với chiếc xích lô.
Giờ thông thoáng. Mang tiếng thuộc đô thành Sài Gòn. Chua chát kể từ trước năm 1975. Giang hồ thứ thiệt thì ai thèm dung thân nơi nghèo kiết xác. Còn các cô phấn son phải về đây thì hồ hết cũng đã tơi tả.
Đền bù. Những xóm nhà ổ chuột và phận người nghèo khó đang được ánh sáng tỏa dần. Dinh dưỡng kém. Nhưng trông coi sẽ đông dần. Hiếm người thoát ra thì cũng vã mồ hôi với chiếc xích lô. Cơm vơi. ”. Tuy nhiên. Họ phải dạt về đây kiếm bạc lẻ.
Rất nghèo. Họ chẳng khấm khá gì. Vui vẻ ra ngoài để nhường chỗ cho con cái học hành. Gần như quờ quạng còn sử dụng máy dệt gỗ.
Nay lớp của Trung đã có 60 học trò từ 5-14 tuổi. Những người nghèo túng trọ khu này cũng nghe báo giá thuê sẽ tăng lên. Trên ăn. Lấy đâu đất cho người chết.
Ngoài tên xóm dệt nó còn có danh “xóm ồn”. Những phận người sống bên bãi phế liệu thấy rác rưới không còn tự do đổ đầy nữa. Có biết làm gì kiếm tiền. Cá lươn. Các cô gái trọ trẹ giọng Quảng Nam. Thấy bên nỗi lo cũng có niềm nhóng khi đám nghiện ngập. Sinh viên Mai Bảo Trung tình nguyện dạy chữ cho trẻ nghèo ở đây kể nhiều buổi đang học mà các em ngồi dưới cứ than đói.
Dệt vải. Có nhẽ “tiếng tai” đất dữ Sở Thùng chính là cảnh lộn xộn đó. Sinh viên thiện nguyện Mai Bảo Trung kể ba năm trước đã từng bị người dân chửi bới.
“Đa số gia đình các em đều ở thuê. Không chăn dắt nổi ở khu đèn đỏ Đại Thế Giới. Đặc biệt là Sở Thùng. Muỗi mòng ảnh hưởng sức khỏe các cháu.
Dân nơi khác đến tìm của lạ cũng là khố rách áo ôm. Người dân nào cũng có nỗi lòng trải bày.
Một số tay anh chị bị giang hồ Cầu Muối. Đường Phạm Văn Đồng mở. Có nghĩa trước mắt miếng cơm sẽ khó hơn. Phấn son. Những người có điều kiện và nhìn xa hơn như ông Hạ đã thấy mai sau khi có con đường. Nói “ngóng mần tiền chợ”. Đã đành một thời có thực trạng đó. Những con cá trê vàng sống trong hang bùn nặng cả ký. Sài Gòn. Nhưng cũng có lý do môi trường sống trước đây phạm nhân. Các cô ới mấy anh giang hồ ra tay.
Những lớp người dừng bước phiêu lưu hồi nửa đầu thế kỷ trước như cha anh ông Hạ còn có cả mảnh đất an nghỉ tại chỗ.
Đó là những con hẻm nằm chênh vênh giữa hai địa bàn Gò Vấp và Bình Thạnh. Con đường mới dẫn đến sự đổi thay? Nghe tôi hỏi câu này. Bà Quảng theo bố mẹ chạy lánh chiến tranh từ Đà Nẵng vào tá túc ở một con hẻm kề bên đường ray xe lửa.
Trai tứ phương. Gặp thằng chơi quỵt. Họ tâm tình ngày xưa chen chúc trong hẻm Lê Quang Định nhỏ xíu. Ba má bỏ nhau. Đất nghèo này. Giờ đường thông. Hồi dân kinh tế mới ở bưng biền không nổi. Đứa ở dưới kênh rạch.
Năm 1954 vào đây. Người mảnh đất này. Nếp sống cư dân phía này vẫn phảng phất nét thôn quê. Nhưng về sau
Bà Quảng. Tuy còn chưa rõ rệt nhưng họ đã phần nào cảm nhận cuộc sống dễ thở hơn. Nhưng nói đất dữ thì làm sao dữ bằng khu Cầu Muối. Ông Hạ kể xưa kia gần giao lộ Nguyễn Thái Sơn. Đã từng cười muốn bể bụng khi chứng kiến cảnh mấy chú lính nghèo đi chơi quỵt gái Sở Thùng. Thùng đánh giày. Thưa dân. HCM. Còn ma túy đa số là hàng sái đen như nước cống.
Bị giang hồ đánh ôm đầu máu bỏ chạy. Làm công mưu sinh. Hồ. Bóng tối của những con hẻm nhỏ. Dân lương thiện kiếm cơm với đống phế liệu. Ông Bảy Đời kể trai gái Sở Thùng hồi đó khó lấy chồng cưới vợ bên ngoài chính là vì “tiếng tai” đất dữ. Giá một “dù” bằng ổ bánh mì xịt xì dầu.
Miếng bạt làm chòi. Hiện vẫn còn thưa khách. Còn con lươn thì to bằng nửa cổ tay. Ông Hạ suốt ngày theo cha bì bọp bắt cá lươn mà nuôi được cả nhà năm người.
Đặc biệt. Nhưng nhìn cảnh cha mẹ các em trọ căn phòng mươi mét vuông. Nhiều bậc cao niên trải tuổi thơ bên kênh rạch thuở vẫn còn xanh trong. Vất vả kiếm sống bằng chính mồ hôi nước mắt của mình. Nhiều ao bỏ hoang làm chỗ cho cá lươn sinh sôi. Ông Bảy Đời. Chiều chiều dân ra tắm giặt.
Để gắng mua được một mái nhà dung thân chẳng quá khó khăn như thời giá hiện nay. Bà Dương Thị Quảng vừa sang tuổi 63. Gò Vấp bây giờ là các ao hồ. Tuy nhiên. Xe ôm. Ông Bảy Đời. Một phần vì thuở ấy tự nhiên ở đây cũng còn khá hoang sơ. Giá tìm chút cảm giác chưa bằng giá tô hủ tiếu.
Chúng tôi đã có niềm tin mai sau các em. Ở mảnh đất bên lề nội thành này còn có nhiều xóm dân lương thiện. Nổi tiếng theo nghĩa “tiếng tai” nhất con đường Phạm Văn Đồng hiện thời vẫn là khu Sở Thùng.
Ao dân ở quanh đây nhiều cái vẫn xanh trong. Nhiều “ổ chuột” ngày nào thành mặt tiền.
Người không quen làm gì thì cho thuê lại hoặc bán chuyển đi nơi khác ăn nhập hơn. Năm 1969. Từ các ao. Chính nên. Gần tuổi 80. Nhà hẻm cũng lên giá. Cờ bạc không còn lắm góc khuất để tự do hoành hành. Ảnh hưởng đến việc nhặt rác của con em họ. Nhường chỗ cho con học Nhiều gia đình ở Sở Thùng đã quan tâm tới việc học của con em mình - Ảnh: bác ái Đường Phạm Văn Đồng mở ban đầu cũng làm dân Sở Thùng bỡ ngỡ.
Bà Quảng. Nhiều người Sở Thùng vẫn chưa thoát được cảnh nghèo vì hầu hết là dân tứ phương không có mẩu đất chọi chim. Lần hồi cả một xóm dệt đã xuất hiện bên đường ray xe lửa. Lại biết chắt chiu nên cuộc sống nhìn chung ổn hơn các xóm khác. Cư dân khu này “dậy sóng” chuyện giải tỏa. Mỗi khi máy chạy tiếng ồn vang sang cả xóm khác. Thậm chí vác dao đuổi vì lo chuyện “tào lao”.
Phải ở trọ để làm rác. Người làm tại chỗ ù tai. Phải nhặt rác sống. Điếu Salem đầu lọc một thời. Vẫn không nhận là chứng nhân mảnh đất này. Người xứ Quảng có nghề dệt. Đan lát. Thậm chí có ngày chẳng được bữa nào. Chỉ kịp mặc áo mà chưa xỏ quần. Ông kể ở đây đã có thôn ấp lâu năm rồi.
“Nói có trai giang hồ. Một số được trồng rau muống. Trẻ hơn ông Hạ.
Lại khoác thêm cho Sở Thùng chiếc áo rách trên manh áo tả tơi. Chợ Lớn. Thì Sở Thùng được hiểu “nức danh nghèo” hơn là đất dữ. Một phần vì cuộc sống khó khăn. Kể mình cũng đã có 44 năm gắn bó với cảnh.
Đường Phạm Văn Đồng mở ra đem đến nhiều đổi thay mà chính dân tại chỗ cũng chẳng thể ngờ được. Một thời kì dài. Xóm này vẫn có tiếng “danh giá” trên mảnh đất mà con đường Phạm Văn Đồng băng qua hiện nay.
Sau thời gian dài chịu khổ với công trình xây dựng ngổn ngang. Ngày ấy. Nhưng nhà cửa thuở ấy cũng rất rẻ. QUỐC VIỆT ------------------------------------ * Tin bài liên tưởng:.
Cư dân bên đường Phạm Văn Đồng đã nhận thấy sự chỉnh trang tỉnh thành tác động đến cuộc sống của họ. Mả Lạng đánh văng hoặc bị cảnh sát truy hỏi phải chui rúc ở đây. Cô hàng xóm kế nhà họ thì mở tiệm bán đồ ăn nhanh đến tận nửa đêm cho khách qua đường. Chạy lánh chiến tranh lên cắm lều tìm chỗ dung thân nhếch nhác đã làm “nổi danh” Sở Thùng.
Bà Quảng chỉ xe nước dưới chân cầu vượt. Cũng thuộc loại cóc ổi mía ghim. Bữa cơm đầy.
Dân anh chị gãy cánh sống vạ vật dựa người nghèo.
Riêng cái nghèo của Sở Thùng là chuyện thường ngày. Có gì họ vọt qua An Phú Đông thuở ấy vẫn rậm rịt. Lớp người lớn tuổi như ông Hạ. Ông Hạ tâm tình có nhẽ chính địa bàn ngập úng. Ông Hạ kể từ trước năm 1975. Thường còi cọc. Cư dân sống gần hết thế cục 70 tuổi ở vùng này. Những người xứ Quảng như bà Quảng vào đây mang theo cả nghề dệt truyền thống.
Gái son phấn thì tôi đồng ý. Có người mở tiệm kinh dinh. Dưới xả.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét