Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Luận bàn năng động về sự công bằng.

Chính sự cạnh tranh giữa các ý tưởng là bước khởi đầu, là cơ sở quan trọng để góp phần tạo nên sự công bằng tầng lớp. Dù rằng có nhiều cách quan niệm cũng như lý thuyết về sự công bằng, tuy nhiên những lý thuyết này vẫn chưa đủ để tạo ra một cách hiểu thống nhất về sự công bằng, bởi lẽ mỗi nền văn hóa, ở không gian và thời kì khác nhau, lại xuất hiện những cách hiểu, cách đánh giá khác nhau về sự công bằng.

Muốn vậy, phải có cơ chế giải trình, rà soát, giám sát và bảo đảm sáng tỏ thông tin. Chẳng hạn trong việc xây dựng chính sách thuế: Những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải ứng dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc).

-------------- 1 Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit juristischer Methodenlehre, 6. Theo nghĩa khách quan, công bằng được hiểu là những giá trị đúng đắn, những qui tắc, chuẩn chung hoặc cách thức hành động hợp, được cộng đồng thừa nhận 2.

Metzler, Stuttgart 1995, S. Việc thực thi hiệu quả các vấn đề như công bằng trong việc tiếp cận các dịp, công bằng trong việc đảm trách nghĩa vụ chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các đời sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.

Việc thực thi hiệu quả các vấn đềnhư công bằng trong việc tiếp cận các thời cơ, công bằng trong việc đảm đang nghĩa vụ chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các đời sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều bình diện ở khuôn khổ toàn cầu.

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đều đề cao giá trị bình đẳng, công bằng, mục đích là chống lại sự phân biệt đối dựa trên sự dị biệt về nguồn cội xuất thân, chủng tộc, màu da, giới tính, xu hướng dục tình, ngôn ngữ, tôn giáo, thế giới quan chính trị, nguồn gốc xuất thân, tài sản hay các điều kiện khác.

Đó là công bằng. Những đối tượng này cần phải được tiếp cận với các dịch vụ coi ngó sức khỏe, giáo dục, công ăn việc làm, nguồn vốn, màng lưới an sinh nhằm góp phần kiến tạo sự công bằng về điều kiện sống và công bằng về cơ hội phát triển trong từng lớp 5. , Dịp giữa các thành viên trong từng lớp được phân chia một cách phù hợp, không tây vị 4.

Những quyết định hành chính hay phán quyết của Tòa án vi phạm nguyên tắc đồng đẳng phải bị hủy bỏ. 3 Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn. Worldbank. Mỗi người sẽ có những đánh giá riêng của mình thế nè công bằng hay không công bằng. 348. Công bằng còn được hiểu là sự lớp một môi trường mà trong đó các dịp là ngang bằng nhau.

Người dân phải được quyền biết và đóng góp quan điểm vào việc hình thành, cũng như giám sátviệc thực thi luật pháp. Tóm lại, công bằng có thể hiểu một cách đại quát nhất là thể lý tưởng của tầng lớp loài người, trong đó vấn đề tài sản, lợi. Chả hạn, trong một tầng lớp đa dạng, đa chiều, sự cạnh tranh giữa các ý tưởng sẽ tạo điều kiện cho các sáng kiến của cá nhân chủ nghĩa phát triển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dặn dò: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Đồng đẳng và công bằng dưới góc độ pháp lý    Dưới góc độ pháp lý, bình đẳng và công bằng là hai khái niệm khác nhau.

” Công bằng ngày nay không chỉ là xu hướng chung trong thế giới hiện đại mà còn là điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, là tiêu chí, thước đo đánh giá chừng độ phát triển bền vững của một từng lớp.

4 Xem: Oswald Schwemmer, Gerechtigkeit, in: Jürgen Mittelstraß (Hrsg. Hoạt động hành pháp và tư pháp cũng phải dựa trên cơ sở pháp luật và đảm bảo sự vô tư (fairness), đồng thời hiệp với thuộc tính, mức độ của từng quan hệ pháp lý cụ thể.

Trong tuyên ngôn nhân quyền của liên hợp quốc năm 1948 (The Universal Declaration of Human Rights) có ghi nhận là: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và đồng đẳng về nhân phẩm và quyền lợi.

Chả hạn chính sách cộng thêm điểm thi đại học theo vùng hiện giờ, chính sách tương trợ cho những người tật nguyền, người già cô đơn không nơi dựa ở Việt Nam hiện thời ngoài ý tức là những chính sách xã hội, đó còn là biểu đạt của sự công bằng (công bằng theo chiều dọc).

Aufl. Band 1. Đó là sự công bằng; Hay qui định người nào làm nhiều sẽ được hưởng nhiều, người nào làm ít sẽ được hưởng ít, người có công được thưởng, người có tội phải bị trừng phạt; người có công càng lớn thì mức thưởng càng lớn, người có tội càng nặng, mức phạt sẽ càng nặng. Điều này cũng phản chiếu một qui luật thế tất: sự hợp nhất và đấu tranh của các mặt đối chọi là cỗi nguồn, động lực của sự phát triển.

(Xem mỏng của nhà băng thế giới (World Bank) về sự công bằng và phát triển (Equity and Development) năm 2006 tại địa chỉ: http://econ. Trong xã hội hiện đại hiện tại, để bảo đảm cho sự công bằng, cơ quan lập pháp có vai trò rất quan yếu. 6 Nguyên tắc này đóng vai trò như là nền tảng của quốc gia pháp quyền đương đại và là một nguyên tắc quan yếu của nhiều bản Hiến pháp dân chủ.

Những đạo luật vi phạm nguyên tắc bình đẳng phải bị tuyên bố vô hiệu. Lập pháp có nhiệm vụ phải tối ưu hóa mọi lợi ích của mọi thành phần từng lớp (welfare maximization).

746 5 Theo ít của Ngân hàng thế giới (World Development Report 2006 – Equity and Development) ở những nước nào mà các nguyên tố về công bằng, đặc biệt là công bằng về mặt cơ hội (equality of opportunity) được quan tâm, bảo vệ thì ở những nước đó có sự tăng trưởng tốt về kinh tế. , 2011, Rn. ” Điều 52 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 cũng qui định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.

Đồng đẳng về cơ hội và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các ý tưởng    xã hội nào cũng luôn tồn tại những nhóm người yếu thế, nhóm người dễ bị thương tổn.

Chả hạn: Cái thiện luôn thắng cái ác, Cô Tấm hiền thảo, chịu khó hay Thạch Sanh nghĩa hiệp rút cuộc được hưởng vinh hoa phú quí, còn mẹ con Cám độc ác hay Lý thông dâm ác, man trá rút cuộc phải bị trừng phạt. Hiện tại trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, công bằng dần được nhìn trong một phạm vi rộng lớn hơn, không chỉ được hiểu là công bằng trong phạm vi nhà nước, mà hơn thế, công bằng còn được hiểu ở phạm vi quốc tế.

): Enzyklopädie Philosophie und Wissenschaftstheorie. Bình đẳng chỉ là nhân tố cơ bản hợp thành sự công bằng.

Không ở đâu luật pháp qui định “mọi người đều đồng đẳng”,vì điều đó chẳng thể có, nhưng gần như luật pháp của quốc gia nào cũng qui định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật bị vi phạm khi công quyền hành xử tùy tiện, đối xử bất công hơn đối vơímột nhóm người này so với một nhóm người khác, không dựa trên căn cứ pháp lý nào cả, dù rằng giữa hai nhóm này không có bất cứ một sự khác biệt nào về mặt địa vị pháp lý.

Bình đẳng trước luật pháp là điều kiện cơ bản để đạt đến sự công bằng 6. Org/external/default/main?pagePK=64165259&theSitePK=478060&piPK=64165421&menuPK=64166093&entityID=000112742_20050920110826).

Công bằng theo nghĩa khách quan và công bằng theo nghĩa chủ quan    Công bằng cũng có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau là nghĩa khách quan (objective justice) hoặc nghĩa chủ quan (subjective justice) 1. 349. 2 Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn.

Công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc    Trong kinh tế học, người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng từng lớp đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng tầng lớp theo chiều dọc (vertical justice) theo tức là đối khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau.

347. Thí dụ, những thầy thuốc có cùng trình độ, cùng năm cống hiến phải được hưởng lương như nhau, nhưng chẳng thể đòi hỏi lương một người thầy thuốc lâu năm đã bỏ bao công lao động, học hỏi, phải ngang bằng với lương một người y tá mới ra trường.

Theo nghĩa chủ quan, công bằng phụ thuộc vào sự cảm nhận, đánh giá, phán xét của mỗi cá nhân chủ nghĩa 3.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét