Hay khi tôi viết: “Những ngôn từ chưa mọc râu/Những bào thai thời cuộc chết yểu” thì người ta “vặn”: “Đối với Trần Quang Quý bây chừ ngôn ngữ cũng… có râu”
Không thể nói, hết thảy thị phi đều từ trên giời rơi xuống (nói thế oan cho giời). Nhắc chuyện yêu đương của Trần Quang Quý mới thấy cái lợi của người làm thơ. Ngoảnh mặt nhìn cõi trần thấy lấp lóa những “Siêu thị mặt”. Cùng với thời kì thơ Trần Quang Quý càng giàu thuyết, chiêm nghiệm. Tuy ít nhưng đượm. Anh thuộc hàng may mắn vì “thi hứng” đột nhập đều đều, không bỏ rơi giữa chừng, giữa đoạn.
Quê nhưng không Mùa Trần Quang Quý cho rằng, anh sáng tác sung sức nhất trong mười năm trở lại đây, thành quả là những tập thơ nối nhau ra đời: “Giấc mơ hình chiếc thớt” (2003), “Siêu thị mặt” (2006), “Cánh đồng người” (2010), “Màu tự do của đất” (2012).
Thơ đâu phải toán học. Anh là tác giả của những tập thơ mang tên lạ: “Siêu thị mặt”, “Giấc mơ hình chiếc thớt”… Tập thơ “Giấc mơ hình chiếc thớt” hội tụ những bài thơ nói đến thân phận của những người yếm thế.
Nhưng thấy tội tội khi tập thơ “Màu tự do của đất” bị lôi ra kính hiển vi, bóc tách từng câu chữ. Nỗi ám ảnh của con cá chính là cái thớt. Không nhận mình đào hoa nhưng thi sĩ cũng từng được một số chị em tỏ tình. Chẳng biết đến lần sau, Trần Quang Quý có ra tập bút kí kể chuyện ba lần đến nước Mỹ như vị giáo sư nọ không, hay lại thai nghén một chùm thơ quê? Trần Quang Quý sinh ra ở Phú Thọ.
“Vai nào anh sắm đạt nhất trong thế cục?”, hỏi Trần Quang Quý. Ngùi ngùi hích: “Ở nước mình chẳng ai sống được bằng nghề làm thơ”, vậy mà cái nghề “chết đói” ấy thỉnh thoảng cũng mang lại “món hời” không thể quy ra vật chất. Là kẻ ít lấy men rượu làm vui nhưng men say mường tưởng cũng giúp anh buông mình thả những câu thơ thật là thơ: “Rượu đã thấm/Tóc không bờ mây biếc/Em thôi cười như thuở nhạt phèo trăng/Những ngang ngửa sau một ngày cơm áo/Ta trơ khấc cô đơn biết nhường nào”, lại nữa: “Em đến như thượng cổ /Em đến như bóng tối/Tôi như con chim bay lạc giữa sao trời/Trong đáy mắt em vừa chợt mở/Biết dòng sông còn trôi hay không?”.
Nông Hồng Diệu. Trần Quang Quý cho rằng, anh sáng tác sung sức nhất trong mười năm trở lại đây, thành tựu là những tập thơ nối nhau ra đời: “Giấc mơ hình chiếc thớt” (2003), “Siêu thị mặt” (2006), “Cánh đồng người” (2010), “Màu tự do của đất” (2012).
Nhưng đúng là cũng có khi Trần Quang Quý bị… oan. Có nhẽ chất đồng quê lãng mạn nhưng ẩn chứa nhiều trằn trọc của Exenhin cũng ảnh hưởng phần nào trong nhiều sáng tác của Trần Quang Quý? Thơ Trần Quang Quý chưa bao giờ thôi hết trăn trở, bởi thế cục chẳng bao giờ hết những vấn đề day dứt nghĩ suy, cũng như thơ ca luôn cựa mình đòi đổi mới.
Trần Quang Quý biết ở đằng sau có kẻ “đánh” mình nhưng anh có lý do riêng, để không “đánh” lại: “Hơi đâu mà… cãi”. Cãi thì chẳng cãi nhưng bất bình cũng chẳng theo đó mà tiêu tán: “Người ta cũng có tài cũng cảm nhận được thơ tôi, song lại cố đổi trắng thay đen, ngẫm mà buồn”.
Có những câu thơ tình khiến tác giả “Bên kia sông Đuống” phải rơi nước mắt khi đọc: “Anh nghèo lắm có gì đâu ngoài sách/Có gì đâu gia tài chẳng ngoài em/Ô cửa hẹp mà trời thăm thẳm quá/Một ngôi sao buông lỏng giữa xa mờ”. Hay khi tôi viết về cái lưỡi điêu ngoa, “Chiếc lưỡi mặc chiếc quần trễ rốn”, người ta cũng lại chế nhạo… thực lòng, đây mới chính là những phát hiện, cải cách của một người thơ không mỏi mệt - Trần Quang Quý.
Tôi viết bài thơ “Chiếc gươm trong bảo tồn”, trong đó có câu: “Tiếng nghiến răng lịch sử/ Còn khía những vết thương hòa bình”, thì người ta giễu tôi: Trần Quang Quý cho lịch sử mọc răng”. TS Nguyễn Đăng Điệp khen Trần Quang Quý không muốn lặp lại những nẻo đường của người khác đã đi, còn nhà thơ Nguyễn Thụy Kha thì “văn vở” hơn khi viết: “Trong cuộc Olympic thơ Việt đầu thế kỷ mới, cung thủ Trần Quang Quý với độ căng của dây cung triết lý, với sự nhọn của thi ảnh, với sự tự tín của xúc cảm đã bắn tới đích của sự mới mẻ, bằng những câu thơ mũi tên bay theo giai điệu du ca để tạo thành cõi lạ”.
Trong những thời khắc long đong của cuộc đời, cũng từng có lúc Trần Quang Quý ngỡ mình… như cá. Ngoài thơ, Trần Quang Quý đặc biệt ham mê thể thao, chơi một vài môn thể thao vào những ngày rảnh và không để lỡ bất cứ một trận bóng đá quyến rũ nào trên truyền hình, dù diễn ra vào lúc nửa đêm.
Hỏi Trần Quang Quý có ưng ý với “vốn liếng” tích lũy được qua thời gian? Nhận được câu trả lời không có gì “đột phá”: “Khát khao là hết sức nhưng tôi chấp thuận với những gì mình có”
Không nhớ ai đó đã nhận xét rất hay về thơ Trần Quang Quý: Quê nhưng không Mùa. Tập thơ mới nhất, giành giải thưởng của Hội Nhà văn chẳng hạn. Bảo, ở tuổi của anh có lẽ sẽ hợp hơn nếu chuyển sang viết tiểu thuyết? Anh cười: “Đó cũng là một trong những ý định của tôi”.
Những câu như “Chân trời chôn dưới đường cày/Trời suông suông vẫn ở ngay trên trời/Lời rơm rạ ngắn mùa dài/Cơm quê một bát đong đầy nỗi quê” hay “Ngày vui khua những dần sàng/Đêm buồn nhâm nhi ngô rang thuốc lào”, ngóng ra cũng chẳng đến nỗi sượng với Đồng Đức Bốn, kẻ đóng góp nhiều cho thơ lục bát.
Nếu cứ xét vẻ ngoài thô mộc, dễ đoán Trần Quang Quý là “người tình chung thủy” của thể thơ tự do nhưng anh cự nự: “Cũng có làm thơ lục bát đó chứ, tôi không “li dị” truyền thống”. Trần Quang Quý không “thần tượng” một nhà thơ cụ thể nào. Trong một thể thơ êm ái, dễ làm với người trong nghề, Trần Quang Quý đã cố để giữ nó không trôi đi tuồn tuột dưới ngòi bút của anh. Các nhà thơ thường che đậy, thơ tình được viết bằng tưởng tượng, còn Trần Quang Quý chẳng dại gì nói dối: “Tôi viết bằng cả tưởng tượng và thực tế”.
Cái vẻ thô nháp lồ lộ thật khó lọt qua vòng kiểm duyệt của chị em ưa hình thức. “Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt”, nhưng nhìn anh chẳng thấy miền bình yên nào.
Nhìn anh lại nhớ tới câu thơ nức tiếng một thời của Khuất Quang Thụy: “Sống mới khó làm sao/Nữa là còn tranh đấu/Nữa là còn sáng tạo/ Nữa là còn yêu nhau”. Hơi đâu mà… cãi Người trong giới đều biết Trần Quang Quý sở hữu thứ chẳng ai thèm tỵ nạnh: thị phi.
Tranh: Nguyễn Xuân Hoàng. Nếu chỉ nói, “Màu tự do của đất” thua “Giấc mơ hình chiếc thớt” thì cũng chẳng có gì tranh biện, bởi đó là quyền thẩm thấu của kẻ kết nạp. Có nhà phê bình thích câu: “Mọi vật đều có một trật tự/Chỉ ý nghĩ là tự do”. Thơ tình không phải nguồn mạch chính thuần khiết tác của Trần Quang Quý. Nhưng sáng tác văn xuôi cần nhiều thời kì, Trần Quang Quý thì bận bịu, với công việc ở NXB Hội Nhà văn, nơi anh giữ vị trí Phó giám đốc và… chắc cũng còn nhiều câu chuyện liên hệ áo cơm khác nữa.
Anh dẫn chứng: “Khi đến thăm bảo tồn, tôi nhìn thấy chiếc gươm, cảm thấy nỗi khổ đau, mất mát. Kết quả là, từ khi bắt đầu làm thơ, năm 17 tuổi, đến nay sau vài chục năm, anh đã có gia tài kha khá: 6 tập thơ. Nếu cứ soi li ti thì đến cả những câu tuyệt bích như “Ô hay, buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông” có khi cũng còn có… vi trùng.
Giời thương, tuy có tằn tiện nhào nặn vẻ ngoài nhưng lại khoáng đạt ban phát thứ bên trong. Hẳn nhiên đó cũng chính là nguyên liệu để Trần Quang Quý viết những câu thơ tình. Anh đáp: “Vai đạt nhất và lộ nhất chính là mặt tôi”. Những câu thơ kiểu này không dễ dàng viết ra nhưng có thể nhiều người cũng viết được, tôi chắc độc giả sẽ bịn rịn những câu thơ đẫm tình quê của Trần Quang Quý hơn: “Cổ tích làng tôi tắm ở cầu ao/Em cứ thả trắng ngần trăng ướt/Tôi vục xuống lòng tay như hứng được/Một làn hương bồ kết bay hờ” hay “Lớp gạch già lõm mặt/Cánh cổng lăn ẽo ẹt đời người”… Ngỡ mình… như cá Trần Quang Quý có hai con trai, không theo nghiệp thơ ca của bố.
“Người quê đi đến chỗ nào chả quê”, chắc Trần Quang Quý ngẫm từ mình mà viết vậy. Thơ Trần Quang Quý trẻ hơn tuổi tác và vẻ ngoài của anh, điều này nhiều người nhận. Anh là tác giả của những câu thơ vừa âu yếm, vừa xúc cảm thế này: “Lối vào nhỏ/Căn nhà ta bé nhỏ/Một tiếng guốc khua đã đủ chật rồi/Em nấu bếp nhìn anh trong mắt ướt/Thế là chiều Hà Nội bớt lang thang”.
Anh du ngoạn dưới gầm trời cũng khá, đi rất nhiều nơi, và mới trở về từ Mỹ: “Đây là lần sang Mỹ thứ hai của tôi”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét