Bỏ sư phạm để đeo đuổi âm nhạc
Phó Đức Phương đã viết một đôi bài hát từ thời còn đang học cấp hai, nhưng khi ấy ông viết bằng bản năng, chưa xác định gì cho nghề nghiệp trong ngày mai. Khi chọn lọc ngành nghề, ông cũng chọn ngành sư phạm bởi hồ hết thanh niên ngày ấy hoặc đi lính hoặc đi sư phạm. Thầy giáo khuyên cậu trai Hà Nội nên chọn con đường thứ hai và vì học khá giỏi các môn thiên nhiên, nên khi vào sư phạm Phó Đức Phương chọn khoa Toán - Lý.
Phó Đức Phương vốn mê thơ, ông vẫn nói rằng “thơ có thể phóng thích con người từ bản chất”. Mê thơ, bị/ được thơ làm cho hưng phấn nhưng “con âm” trong ông khôn cùng mạnh mẽ, nên nó thôi thúc ông đi con đường âm nhạc. Có lẽ ông cho rằng, lời và nhạc quyện nhau sẽ chinh phục xúc cảm người ta tốt hơn. Chính thành thử mà ông chọn âm nhạc và đi theo con đường ấy, coi nó như máu thịt của mình.
Nhưng khi nhận ra mình cần đi theo con đường nào thì ông đã đang học sư phạm năm thứ hai rồi. Thời đó, sinh viên không được phép học hai trường hoặc chuyển trường. Vì vậy, khi nhận ra ước mong lớn nhất của mình, muốn chuyển sang học trường nhạc ông phải tìm cách thôi sư phạm. Giữa năm thứ hai, ông làm đơn xin thôi học để đi cần lao với lý do “gia đình khó khăn”. Ở nông trường Cửu Long (Lương Sơn, Hòa Bình), ban sơ chàng trai trẻ có năng khiếu được “cơ cấu” để làm thuê tác văn nghệ. Nhưng, Phó Đức Phương nằng nặc đòi đi cần lao thực tiễn. Và nông trường xếp cho việc chăn lợn, anh cũng đồng tình. Nhờ vậy, sau đó, Phó Đức Phương về Hà Nội nhập học trường Âm nhạc Việt Nam bởi nếu làm cán bộ văn nghệ nông trường thì chắc gì đã xin chuyển đi được dễ dàng như thế.
Nổi tiếng ngay từ bài hát đầu tiên
Vừa vào trường, Phó Đức Phương đã hoàn thành Những cô gái quan họ. Về tác phẩm đầu tay này của ông, câu chuyện được kể lại rằng: Sinh ra ở Hà Nội, nhưng hồi nhỏ, hè nào ông cũng được mẹ đưa về quê ngoại Bắc Ninh, nơi “tuổi thơ đẹp như giấc mơ tôi”. Những cánh đồng xanh tươi mênh mông, những làn dân ca quan họ đằm thắm tình quê, đã thúc đẩy Phó Đức Phương khi ấy vừa thi đậu vào trường nhạc viết “Những cô gái quan họ”. Bài hát đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) trong cuộc thi vận động sáng tác ca khúc của tỉnh Hà Bắc năm 1965. Hồi đó, các nhạc sĩ miền Bắc đa số viết những ca khúc tranh đấu, làn sóng ấy cũng dội vào Phó Đức Phương nhưng theo một cảm nhận và biểu hiện dị biệt. Mặc dầu mến mộ Hoàng Vân cùng những tác phẩm hoành tráng của bậc thầy nhưng tâm hồn chàng trẻ trai lại hướng vào cái đẹp chất phác, mộc mạc ở làng quê. Và bài hát đầu tay tức khắc đã ghi tên Phó Đức Phương trong lòng công chúng yêu nhạc cả nước.
Ra trường, năm 1971, anh đã có Hồ trên núi (một bài hát đáng kể nhất của sự nghiệp âm nhạc Phó Đức Phương). Hai bài hát đó, cùng Huyền thoại Hồ núi Cốc, Một thoáng Tây hồ, Trên đỉnh phù vân, Chảy đi sông ơi, Về quê… sau này, đều là những ca khúc bất hủ trong kho tàng bài hát Việt Nam đương đại.
Âm nhạc Phó Đức Phương vừa giàu bản sắc dân gian vừa chứa đựng chất hàn lâm cổ điển. Tài sản âm nhạc của ông còn gồm hàng trăm tác phẩm viết cho sân khấu, múa, điện ảnh... Các đoàn nghệ thuật phía Bắc, hầu hết nhờ đến ông, từ nhạc cho múa đến nhạc cho kịch. Không chỉ với ca khúc ông mới làm kỹ lưỡng từ nhạc điệu đến ca từ, từ hòa âm phối khí đến thu âm, dàn dựng; mà ngay cả khi dựng bài hát với ca sĩ, ông cũng muốn sao cho có được sự đồng điệu xúc cảm cao nhất. Nên chi, không chỉ các đoàn nghệ thuật và bồ nhạc mà các ca sĩ tăm tiếng, lớp trước như: Ngọc Tân, Quang Lý, Thu Hiền… lớp sau như: Mỹ Linh, Thanh Lam, Tùng Dương, Phương Thảo… đều thích hát nhạc của ông. Nhạc của ông đâu có dễ hát, không giàu cảm xúc, không đủ nội lực và kỹ thuật thì không hát hay được. Nhưng bài hát đã vang lên thì cả tác giả lẫn người biểu diễn đều được hoan hô, mến mộ. Cũng giống như Trần Tiến, Dương Thụ, Nguyễn Cường… ông là người hát bài của mình khiến người nghe huých nhất.
Và “rẽ ngang” làm bản quyền âm nhạc
Trong khi tiếng tăm vẫn đang lên như diều no gió, thì bỗng nhiên người ta thấy Phó Đức Phương “rửa tay gác kiếm”, để đi làm bản quyền âm nhạc, một lĩnh vực khó và chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam. Các nước tiên tiến cũng phải mất vài chục năm thì pháp luật mới được thực thi nghiêm chỉnh trong lĩnh vực này. Ở nước ta, luật có đủ và được bổ sung hoàn thiện dần từ ngày ta gia nhập WTO và ký công ước Berne nhưng người trốn thi hành luật thì vẫn nhiều không kể xiết.
Năm 2000, ông chấp bút viết bản kiến nghị về vấn đề quyền tác giả và “vã nước lên hồ” từ đấy. Nhiều năm đi làm không lương, bạn bè, người nhà khăng khăng can ngăn, có người đã bảo ông: “Cả một cơ quan khổng lồ là Tổng cục Thuế còn không dẹp nổi buôn lậu, trốn thuế nữa là các ông!..”. Lại có người cười bảo, văn nghệ sĩ thì dễ đánh trống bỏ dùi, thành công được tinh khiết tác thôi chứ việc khác thì thách cũng không làm được. Lại có người khẳng định : “Giải quyết chuyện bản quyền ở nước mình phải tới thế kỷ 22”. Nhưng ông vẫn làm.
Thấy ông khó nhọc và mấy năm liền không ra tác phẩm mới, không ít người tiếc rẻ, đặt câu hỏi: Phó Đức Phương sẽ trở lại với công chúng như thế nào sau 12 năm dứt áo với sáng tác? Liệu có thêm một Hồ trên núi khác, một Chảy đi sông ơi mới? ban sơ ông cho nghe “Nao nao Thác Bà”, một tác phẩm rất hay ông viết trong thời gian đầu những năm đã làm giám đốc bản quyền âm nhạc. Nhưng sau đó, ông trầm ngâm: “Quả thật, bộn bề quá, việc của cơ quan không ngờ mà nhiều quá, chiếm tâm não sức lực toàn diện quá… Mình đã định lui về phía sau rồi, nhưng bạn biết đấy, các nhạc sĩ vẫn còn chưa được bảo vệ đủ lợi quyền đúng như lẽ ra phải thế. Nhận thức xã hội vẫn còn thấp, các cơ quan chức năng không phải lúc nào cũng sẵn sàng vào cuộc, nên mình vẫn phải lao vào… Người trẻ ở đấy rất giỏi, nhưng vẫn cần đến một tư duy chiến lược, nhiều kinh nghiệm, mình chẳng thể bỏ mặc... Trở lại sáng tác với mình giờ cũng khổ ải và kịch tính lắm. Công chúng trẻ hiện nay đòi hỏi rất khác, đó cũng là một điều không đơn giản với người sáng tác ở đời mình”.
Đến hiện giờ, đã hơn mười năm ông làm công tác bảo vệ quyền tác giả, nhiều người vẫn khó có thể hình dung một nhạc sĩ tài danh, lừng danh nhân từ, thay vì ngồi bên cây đàn và bản nhạc, lại cần mẫn gõ cửa mọi phòng ban, cơ quan chức năng để chiến đấu cho việc thực thi luật pháp về quyền tác giả. Người quý mến ông bảo: “Tôi chờ đợi những tác phẩm âm nhạc của anh hơn là chuyện quyền tác giả! Sao ông lại hy sinh mình thế”. Ông tâm tình rằng, nếu không hy sinh, không tận tâm thì nhiều người thiệt thòi, mệnh của mình nó thế, phải mất một giáp khổ ải trên con đường này”. Vâng, bây chừ là chẵn một giáp. Tiền thu về cho các nhạc sĩ năm mới rồi đã lên tới ngót 49 tỷ đồng. Trong năm này, có hẳn 100 người trong số hơn 2.500 người, ủy thác cho trọng tâm của ông, nhận một năm từ 99 triệu đến 400 triệu đồng.
Với những gì ông làm, kể ra cũng thật lạ lùng. Một người cực ú ớ, hồn nhiên, ngây thơ trong đời sống như ông lại có thể sắc sảo trong ngôn từ khi soạn thảo văn bản luật pháp, khi bàn cãi lý lẽ về quyền tác giả và sở hữu tác phẩm. Người ta càng không hiểu gần 70 tuổi rồi, ông vẫn tài xế ngon lành, siêng năng học tiếng Anh (đủ để chuyện trò trực tiếp và dự hội thảo quốc tế). Nhưng Phó Đức Phương là vậy, ông làm việc hết mình, dù là sáng tác hay làm bản quyền tác giả, như “con sông hiến mình tất cả”, “miệt mảy chảy mãi khôn nguôi”…
Trần Hường
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét